Khi thuốc trị tăng huyết áp gây ho

Thứ Tư, 13/07/2011 07:18

Thuốc nói chung ngoài dùng để chữa bệnh và phòng bệnh đều có thể gây tác dụng phụ. Riêng người bệnh tăng huyết áp cần đi khám bệnh để bác sĩ chẩn đoán và giúp lựa chọn thuốc thích hợp (hiện có đến bảy nhóm thuốc được dùng).

Nếu người bệnh được bác sĩ chỉ định cho dùng một trong ba nhóm thuốc sau có thể bị tác dụng phụ là ho khan.

Ảnh minh họa Internet.

Vì sao ho?

Thuốc thứ nhất thuộc nhóm ức chế men chuyển, gồm: captopril, enalapril, benazepril, lisinopril...). Cơ chế của thuốc là ức chế một enzym có tên men chuyển angiotensin (angiotensin converting enzyme, viết tắt ACE). Chính ACE xúc tác mà chất sinh học có trong cơ thể là angiotensin I biến thành angiotensin II, gây co thắt mạch làm tăng huyết áp. Nếu ACE bị thuốc ức chế sẽ không sinh ra angiotensin II và có hiện tượng giãn mạch, làm hạ huyết áp.

Thuốc ức chế men chuyển gây ho khan vì ACE không chỉ xúc tác biến angiotensin I thành angiotensin II, mà còn có vai trò trong sự phân hủy chất sinh học khác có tên bradykinin, nếu thuốc ức chế ACE, bradykinin không được phân hủy ở mức cần thiết sẽ thừa gây kích thích ho ở đường hô hấp. Thuốc ức chế men chuyển có thể gây ho khan và kéo dài ở 5-35% bệnh nhân dùng thuốc này. Đây là thuốc trị tăng huyết áp gây ho đáng kể, không tùy thuộc liều lượng (tức uống liều thấp vẫn bị) và thường làm người bệnh bỏ thuốc.

Thuốc thứ hai có thể gây ho khan thuộc nhóm thuốc chẹn bêta, gồm: propranolol, pindolol, nadolol, timolol, metoprolol, atenolol... Cơ chế của thuốc là ức chế thụ thể bêta giao cảm ở tim mạch, do đó làm chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Đa số thuốc chẹn bêta không chỉ ức chế thụ thể bêta-1 chọn lọc tác động trên tim mạch mà còn ức chế thụ thể bêta-2 gây co thắt phế quản. Cho nên nhiều thuốc chẹn bêta ngoài hạ huyết áp có thể gây phản xạ ho (do co thắt phế quản, lưu ý người bị hen suyễn cũng vì thế không được dùng thuốc chẹn bêta). Tỉ lệ bị ho do dùng thuốc chẹn bêta ít hơn so với thuốc ức chế men chuyển.

Nhóm thuốc thứ ba có thể gây ho khan là thuốc chẹn kênh calci (còn gọi thuốc đối kháng calci), gồm: nifedipin, nicardipin, amlodipin, felidipin, isradipin, verapamil, diltiazem... Cơ chế của thuốc là chặn dòng ion calci không cho đi vào tế bào cơ trơn của các mạch máu gây giãn mạch và từ đó làm hạ huyết áp. Cơ chế gây ho của nhóm thuốc này chưa được biết rõ ràng.

Tỉ lệ bị ho do dùng thuốc chẹn calci rất thấp, khoảng 1-6%. Đặc biệt, đây là thuốc thường phối hợp với thuốc ức chế men chuyển trị tăng huyết áp nên phản xạ ho gây ra bởi thuốc phối hợp chứ không phải do thuốc chẹn kênh calci. Tuy nhiên, tác dụng phụ gây ho của thuốc chẹn calci cũng cần ghi nhận để thông tin cho bệnh nhân hầu tránh việc bỏ thuốc.

Xử trí thế nào?

- Ho có thể do thuốc nhưng cũng có thể do nguyên nhân khác. Vì vậy, thử tìm nguyên nhân vì sao bị ho (có thể bị cảm lạnh hay nguyên nhân nào khác...). Trường hợp ho nhiều có thể dùng thuốc trị ho thông thường trong vài ngày, nếu sau vài ngày không đỡ ho nên đến bác sĩ khám chữa bệnh tăng huyết áp trước đây kể rõ triệu chứng ho. Không nên tự ý bỏ thuốc trị tăng huyết áp đang dùng (người bị tăng huyết áp rất cần dùng thuốc đều đặn để kiểm soát, nếu ngưng dùng thuốc, huyết áp tăng vọt rất nguy hiểm).

- Nếu bác sĩ xác định ho do thuốc sẽ cho thay thuốc ức chế men chuyển đang dùng gây ho bằng thuốc mới gọi là thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II (như losartan, valsartan, irbesaetan, candesartan...). Hoặc người bệnh bị ho bởi thuốc chẹn bêta, bác sĩ sẽ thay thế thuốc, dùng thuốc chọn lọc chẹn bêta-1 (như atenolol, metoprolol, pisoprolol...) và cho dùng liều thấp nhất có hiệu quả. Đối với thuốc chẹn kênh calci gây ho, có khi bác sĩ thay thế bằng thuốc nhóm khác thích hợp. Ngoài việc thay thế thuốc, bác sĩ còn thực hiện các biện pháp làm giảm các yếu tố tiềm tàng kích thích phản xạ ho ở đường hô hấp.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Đức (Tuổi Trẻ)

Các bài liên quan

Các bài khác