Hợp tác dùng thuốc: chuyện không nhỏ

Thứ Hai, 13/02/2012 15:36

Bị bệnh thì phải đi khám để được bác sĩ chẩn đoán xác định bệnh, ghi đơn thuốc và sau đó dùng đúng các loại thuốc đã được chỉ định. Có những bệnh còn phải dùng thuốc lâu dài, thậm chí suốt đời (như đái tháo đường, tăng huyết áp, động kinh…).


Thế mà tình trạng người bệnh không chịu phối hợp dùng thuốc theo đúng phác đồ điều trị của bác sĩ ngày càng phổ biến đến độ vào năm 2003, tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tuyên bố tình trạng người bệnh không hợp tác, bỏ ngang việc dùng thuốc đã trở thành mối quan ngại toàn cầu cho sức khoẻ cộng đồng!

Hiện nay các nhà y dược gọi tên của việc bệnh nhân chấp nhận dùng thuốc theo đúng liệu trình của phác đồ điều trị là “hợp tác dùng thuốc” (pharmacoadherence), được định nghĩa là sự cộng tác của người bệnh trong việc thực hiện chế độ điều trị bằng thuốc do thầy thuốc chỉ định, mà sự cộng tác này dựa trên mối tin cậy thân thiết của người bệnh. Nhiều công trình nghiên cứu đã được các nhà y dược thực hiện ở nhiều nước nhằm đánh giá thực trạng hợp tác dùng thuốc và đề ra các biện pháp trợ giúp, can thiệp hữu hiệu.

Các biện pháp hỗ trợ

Các nhà khoa học nhất trí cho rằng để người bệnh hợp tác dùng thuốc tốt, họ cần được giúp đỡ ba việc sau:

Tiếp cận dễ dàng và thuận lợi với thuốc men: người bệnh rất dễ bỏ dùng thuốc nếu thuốc có chế độ sử dụng quá phức tạp, quá nhiều lần hoặc không tiện dụng (dùng dạng tiêm chích thay vì uống). Đáng quan tâm hơn hết là giá thuốc. Đối với các nước đang phát triển như nước ta, đòi hỏi sự tiếp tay của xã hội hỗ trợ những bệnh nhân nghèo không có khả năng chi trả tiền thuốc, để người nghèo không chết vì không tiếp cận được thuốc men điều trị.

Tăng cường sự hiểu biết của người bệnh về tình trạng bệnh và chế độ điều trị bằng thuốc: người bệnh cần biết rõ những điều cơ bản về bệnh của họ và về thuốc, để hiểu vì sao phải dùng thuốc, thuốc sẽ cho tác dụng thế nào đối với bệnh, phải uống thuốc bao nhiêu lần trong ngày và cần bao nhiêu loại thuốc đễ chữa khỏi bệnh, khi dùng thuốc có thể bị các tác dụng phụ nào... Thầy thuốc nên dành thời gian tư vấn cho người bệnh, bởi có khi bệnh nhân cảm thấy bệnh đỡ đi nhiều chỉ nhờ lời nói ân cần của bác sĩ.

Hình thành và củng cố động cơ hợp tác dùng thuốc ở người bệnh: tức phải tạo được niềm tin ở người bệnh là muốn chữa bệnh, dứt khoát phải hợp tác với thầy thuốc, dùng đúng và đủ thuốc. Ở đây rất cần đến mối quan hệ tốt đẹp giữa người bệnh và các thành viên trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ, đó là bác sĩ điều trị, dược sĩ cấp và tư vấn dùng thuốc, điều dưỡng chăm sóc bệnh hàng ngày. Phải tạo niềm tin như thế nào để người bệnh tự giác dùng thuốc, gắn việc dùng thuốc vào sinh hoạt hàng ngày và duy trì việc dùng thuốc dù sinh hoạt hàng ngày có thay đổi (như người bệnh đái tháo đường duy trì tốt việc dùng thuốc kiểm soát đường huyết khi đi du lịch cũng như ở nhà).

Các biện pháp can thiệp

Các nhà khoa học cũng nhất trí để thúc đẩy hợp tác dùng thuốc tốt, cần thực hiện phối hợp các biện pháp can thiệp sau:

Biện pháp kỹ thuật: bác sĩ điều trị khi chỉ định thuốc hoặc dược sĩ khi cấp thuốc nên lựa chọn thuốc có chế độ dùng thuận tiện, như dùng dạng thuốc lỏng (xirô, hỗn dịch…) cho trẻ em, dùng dạng thuốc phóng thích kéo dài đối với người cần dùng thuốc lâu dài (như thuốc trị loãng xương dùng một lần trong ngày cũng gây bất tiện nên đã được thay bằng thuốc dùng một lần trong tuần).

Biện pháp truyền thông – giáo dục: trước hết, chính các bác sĩ, dược sĩ là người thích hợp nhất giúp nâng cao hiểu biết về bệnh tật và thuốc men. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy hợp tác dùng thuốc của người bệnh tốt hơn rất nhiều khi nhà điều trị không kiệm lời, giúp người bệnh hiểu rõ bệnh tình để từ đó có sự tin cậy về chế độ dùng thuốc. Người ta cũng ghi nhận vai trò rất lớn của các phương tiện truyền thông đại chúng, về việc nâng cao kiến thức để người bệnh hợp tác tốt việc dùng thuốc.

Ngoài hai biện pháp chủ yếu trên, các nhà khoa học còn nêu thêm một số biện pháp khác như biện pháp giúp thay đổi thái độ (cũng giống như biện pháp kỹ thuật nêu trên, như dùng thiết bị báo tín hiệu hoặc dùng điện thoại báo giờ uống thuốc), hoặc biện pháp gây ảnh hưởng lên tình cảm người bệnh (như nhờ sự hỗ trợ của những người cùng nhiễm HIV/AIDS, gọi là đồng đẳng, để giúp hợp tác dùng thuốc trong điều trị căn bệnh thế kỷ này).

Tất cả những biện pháp nêu trên đều nhằm giúp người bệnh cải thiện tình trạng hợp tác dùng thuốc. Nhưng việc thực hiện thành công hay thất bại còn tuỳ thuộc vào các nhà chuyên môn y dược, đặc biệt có cả các nhà quản lý y tế.
Theo PGS.TS.DS Nguyễn Hữu Đức (Sài Gòn Tiếp Thị)